2017 Participants

A-festival 2017
Distinguished Guests | Khách thơ

 

Alec Shachner.jpgAlec Schachner is an independent scholar and poetry translator based out of Ho Chi Minh City, Vietnam. He studied English & Comparative Literature and Creative Writing at Columbia University. His translations have appeared in Asymptote Web Journal, Jerome Rothenberg’s blog Poems&Poetics, AJAR, Cha Literary Journal, and elsewhere. In 2015, his translation of Inrasara’s lễ tẩy trần tháng tư was published by the Literature & Culture Publishing House in Vietnam. The poem “Allegory of the Land” is scheduled to appear in the third and final edition of J. Rothenberg’s Technicians of the Sacred. He is currently at work translating Inrasara’s latest novel and looking forward to delving into the ancient Cham epics. Alec is also a multi-instrumental cross-genre musician and sound installation artist.

Alec Schachner thực hiện các nghiên cứu và dịch phẩm độc lập tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Anh học Văn học Anh, Văn học so sánh & Viết sáng tạo tại Đại học Columbia. Các bản dịch của anh đã được đăng tải trên trang tạp chí điện tử Asymptote, blog Thơ & Thi học ( Poems & Poetics) của Jerome Rothenberg, AJAR, Tạp chí văn chương Cha, và nhiều nơi chốn khác. Năm 2015, bản dịch tập thơ Lễ tẩy trần tháng tư của Inrasara của anh đã được Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ tại Việt Nam xuất bản. Bài thơ “Ngụ ngôn của đất” sẽ xuất hiện trong ấn bản thứ ba và cuối cùng của cuốn “Những kỹ thuật gia của Thánh thần” (Technicians of the Sacred) của J. Rothenberg. Anh hiện đang dịch cuốn tiểu thuyết mới nhất của Inrasara và mong được đào sâu vào các sử thi Chăm cổ. Alec đồng thời là một nhạc sỹ hỗn-thể đa-nhạc cụ và nghệ sỹ sắp đặt âm thanh.

 

Cheong Kin ManCheong Kin Man/ Trương Kiện Văn was born in 1987 in what was then Portuguese Macao as the son of illegal Cantonese immigrants from China. During his studies in Portuguese language and culture in Macao and Portugal, he produced three documentaries on Macao’s cultural heritage. After this, he was trained at the European Commission as interpreter and went on working for the Macao government. He then left for Germany and Singapore to make his experimental ethnographic film, “A Useless Fiction || Tiểu Thuyết Vô Dụng” for his MA in Visual Anthropology at the Freie Universität Berlin. He is now a PhD research associate in the same field.

Cheong Kin Man/ Trương Kiện Văn sinh năm 1987 tại Macao Bồ Đào Nha, là con trai của một người nhập cư bất hợp pháp đến từ Quảng Đông Trung Quốc. Trong quá trình nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Bồ Đào Nha tại Macao và Bồ Đào Nha, anh đã sản xuất ba bộ phim tài liệu về di sản văn hóa Macao. Anh được đào tạo như một thông dịch viên tại Hội đồng châu Âu và tiếp tục làm việc cho chính phủ Macao. Sau đó, anh chuyển tới Đức và Singapore để thực hiện bộ phim dân tộc học thể nghiệm “A Useless Fiction || Tiểu Thuyết Vô Dụng” cho bằng Thạc sỹ về Nhân học hình ảnh tại Đại học Freie Berlin. Hiện tại anh đang là nghiên cứu sinh tiến sỹ cũng trong lĩnh vực này.

 

 

Chris Song (Photo Credit _ Vai Si)Chris Song is a poet and translator based in Hong Kong. He has published three collections of poetry and more than twenty books of poetry translation. He was poet in residence at Bundanon NSW Australia in 2010-2011, and won the “Extraordinary Mention” of the 2013 Nosside International Poetry Prize (Italy). Song is involved in various poetry projects; he is executive director of the International Poetry Nights in Hong Kong, editor-in-chief of the Voice & Verse Poetry Magazine and associate series-editor of the Association of Stories in Macao.

Chris Song là một nhà thơ và dịch giả đang làm việc tại Hồng Kông. Ông đã xuất bản ba tập thơ và hơn hai mươi cuốn tập thơ dịch. Ông là nhà thơ lưu trú ở Bundanon NSW Australia trong năm 2010-2011, và đã giành được giải “Khuyến khích Đặc biệt” của Giải thưởng Thơ ca Quốc tế Nosside năm 2013 (Ý). Song tham gia vào nhiều dự án thơ; ông là giám đốc điều hành của International Poetry Nights (Những đêm thơ quốc tế) ở Hồng Kông, tổng biên tập của tạp chí Voice & Verse Poetry và là biên tập viên của Hiệp hội Câu chuyện ở Macao.

 

 

David Payne.jpgDavid Payne lives in Hanoi, Vietnam and divides his time between poetry and prose translation and civil society, public health and climate change projects. His translation of poet and writer Nhã Thuyên’s ‘Underground Voices’ essay on the poet Nguyễn Quốc Chánh was published by Asymptote Journal in 2015. He is currently completing the English translation of a full-length novel by Trần Dần. Other translations and writing have appeared White Horses magazine in Australia, and in collections by Ajar Press. More poetry translations and writing are available at https://hanoiink.wordpress.com.  

David Payne sống tại Hà Nội, Việt Nam và san sẻ thời gian của mình giữa dịch thơ và văn xuôi với các dự án xã hội dân sự, sức khỏe cộng đồng và biến đổi khí hậu. Bản dịch tiểu luận “Nguyễn Quốc Chánh” trong dự án “Những tiếng nói ngầm” của Nhã Thuyên của anh đã được xuất bản trên Tạp chí Asymptote năm 2015. Anh hiện đang hoàn thiện bản dịch tiếng Anh trọn vẹn một cuốn tiểu thuyết của Trần Dần. Các bản dịch và bài viết khác của anh từng xuất hiện trên tạp chí White Horses tại Úc, và trong các số chuyên đề của Ajar Press. Tác phẩm và dịch phẩm của của anh có thể được đọc tại: https://hanoiink.wordpress.com.

 

 

 

Đinh Trần Phương.jpgĐinh Trần Phương was born in 1981. After finishing his PhD in Physics in France, he became a Physics teacher at Hanoi Amsterdam High School. His love and hobbies are for Buddhism, Japanese Culture, haiku, playing PES, football, reading and sleeping. He is the author of a haiku collection Cánh trăng (Hội Nhà Văn publisher, 2014) and a member of Hanoi Haku Club and a member of World Haiku Association (WHA).

Đinh Trần Phương sinh năm 1981. Sau khi nhận bằng Tiến sỹ Vật lý tại Pháp, anh trở thành giáo viên Vật lý tại trường Phổ thông Trung học Amsterdam Hà Nội. Tình yêu và các sở thích của anh dành cho Đạo Phật, văn hóa Nhật, haiku, chơi PES, bóng đá, đọc và ngủ. Anh là tác giả tập thơ haiku Cánh trăng (NXB Hội Nhà Văn, 2014) và là một thành viên của CLB Haiku Hà Nội và của Hiệp hội haiku thế giới (World Haiku Association).

 

 

Du Nguyên.jpgDu Nguyên was born in 198x, and is currently living in Saigon. She is the author of two poetry collections in Vietnamese,  Mục: Xó xỉnh. Cười (Mục: Corners. Laughter).(2011) and “Khúc lêu hêu mùa hè” (Rambling Song of Summer 2014). To her, poetry is a mood movement, intimate to her and her surrounding world.

Du Nguyên sinh năm 198x, hiện sống ở Sài Gòn. Nàng là tác giả hai tập thơ tiếng Việt Mục: Xó xỉnh. Cười (2011) và Khúc lêu hêu mùa hè (2014). Với nàng, thơ là một vận động tâm trạng, thân mật với nàng và với thế giới quanh nàng.

 

 

 

Dương Tương.jpgDương Tường was born August 4, 1932 in Nam Định. He began following the Viet Minh as a liaison officer in April, 1945 and then joined French resistance army from 1949 to 1955. He is the translator of 60 book titles. His own writing works include: Dương Tường’s poetry: Mea culpa and other poems, Đàn (Visual poetry), Le soir esr tout soupirs, and two co-authored collections, 36 bài tình (36 love poems – with Lê Đạt), and Lục giác sông Hồng (The Hexagon of Hồng River) (with 5 other authors). He has a prose collection Chỉ tại con chích chòe (Just Because of the Magpie). In 2008, he was awarded Officier de l’ Ordre des Arts et des Lettres by French Government.

Dương Tường sinh ngày mùng 4 tháng 8 năm 1932 tại Nam Định. Ông bắt đầu làm liên lạc cho Việt Minh vào tháng 4 năm 1945 và sau đó tham gia kháng chiến chống Pháp từ năm 1939 đến năm 1955. Ông là dịch giả của hơn 60 đầu sách. Tác phẩm riêng của ông bao gồm: Thơ Dương Tường: Mea culpa và những bài khác, Đàn (Thơ thị giác), Le soir esr tout soupirs, và hai tập thơ đồng tác giả khác, 36 bài tình (cùng Lê Đạt), Lục giác sông Hồng (cùng 5 nhà thơ khác). Ông có một tập văn xuôi Chỉ tại con chích chòe. Vào năm 2008, ông được chính phủ Pháp trao tặng giải thưởng Officier de l’ Ordre des Arts et des Lettres.

 

 

 

Elise.jpgElise Luong is an arts manager with an education in Photography and Video Art. Through life’s travels she has landed in many a context bringing her to experience working in the public and private sector of the arts. Negotiating the fields of visual and performative arts, Elise has spent the past decade swimming through the many steps an artwork may meander, from the forming of an idea to the dissemination to the public sphere.  Now based in Hanoi she focuses on the development of cultural exchange opportunities for artists and creative professionals.

Elise Luong là nhà quản lý nghệ thuật với đào tạo về Nhiếp ảnh và nghệ thuật Video. Qua những chuyến đi của cuộc đời, cô đã đặt mình vào nhiều bối cảnh đa dạng mang cô tới với những trải nghiệm công việc trong các lĩnh vực nghệ thuật, cả công cộng và riêng tư. Điều phối các lĩnh vực nghệ thuật thị giác và trình diễn, Elise đã dành cả thập niên qua bơi qua những bước đi khác nhau của một tác phẩm nghệ thuật, từ việc hình thành ý tưởng tới sự lan truyền rộng rãi trong không gian công. Hiện cô tập trung vào phát triển các cơ hội trao đổi văn hoá cho nghệ sĩ và các chuyên gia nghệ thuật.

 

 

Eliza Vitri Handayani.jpgEliza Vitri Handayani has been writing and publishing since she was in her teens. Her novel From Now On Everything Will Be Different came out in 2015 and was launched internationally, including at the Frankfurt Book Fair and Asia-Pacific Writers & Translators Summit. At the launch in Oslo and Jakarta, Eliza wore a dress she made herself from the novel’s proofs. The novel’s launch at Ubud Writers & Readers Festival was cancelled due to police warnings, and Eliza protested by wearing to the festival T-shirts printed with excerpts from her novel. Her short works have appeared in places including the Griffith Review, Asia Literary Review, Exchanges Journal, Magdalene, Jakarta Post, Koran Tempo, Words Without Borders, Inside Indonesia, and Index on Censorship. In 2016 Eliza was selected as a WrICE fellow and participated in residencies in China and Australia. Eliza has appeared at Northern Territory Writers Festival, Makassar International Writers Festival, and Melbourne Writers Festival. Eliza manages InterSastra, a platform for literary exchange between Indonesia and the rest of the world.

Eliza Vitri Handayani bắt đầu viết và xuất bản từ thuở thiếu niên. Tiểu thuyết “Từ đây mọi thứ sẽ khác đi” (From Now On Everything Will Be Different) của cô ra mắt vào năm 2015 và được giới thiệu rộng rãi trên thế giới, bao gồm ở Hội chợ sách Frankfurt và Hội nghị nhà văn & dịch giả châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Writers & Translators Summit). Tại buổi giới thiệu sách ở Oslo và Jakarta, Eliza mặc chiếc váy được cô thiết kế từ chính những bản in thử tiểu thuyết của mình. Buổi giới thiệu sách tại Ubud Writers & Readers Festival bị huỷ bởi những cảnh cáo từ phía công an, Eliza đã phản đối bằng cách mặc chiếc áo phông in những trích dẫn từ tiểu thuyết của cô đến hội thơ. Các tác phẩm ngắn của cô đã xuất hiện ở nhiều nơi bao gồm Griffith Review, Asia Literary Review, Exchanges Journal, Magdalene, Jakarta Post, Koran Tempo, Words Without Borders, Inside Indonesia, Index on Censorship. Năm 2016, Eliza được lựa chọn là thành viên của WrICE và tham gia vào các đợt lưu trú tại Trung Quốc và Úc. Eliza đã xuất hiện tại Northern Territory Writers Festival, Makassar International Writers Festival, và Melbourne Writers Festival. Eliza quản lý InterSastra, một diễn đàn trao đổi văn chương giữa Indonesia với thế giới.

 

 

 

Elizabeth Allen Author Photo.jpgElizabeth Allen lives in Sydney where she writes and works as a bookseller at Gleebooks. Her poetry and short fiction has appeared in many major literary journals as well as in the Best Australian Poems 2012 and 2014. She is the author of a poetry chapbook, Forgetful Hands (Vagabond Press, 2005), and a full-length collection, Body Language (Vagabond Press, 2012), which won the Anne Elder Award. She was one of the judges of the inaugural Noel Rowe Poetry Award and carried out a writing residency at the Arteles Creative Center in Finland during 2016. Her new poetry collection, Present, will be published by Vagabond Press this year.

Elizabeth Allen sống tại Sydney nơi cô viết và làm người bán sách tại Gleebooks. Các tác phẩm thơ và hư cấu ngắn của cô được đăng tải trên nhiều tạp chí văn chương quan trọng cũng như trong Tuyển tập Thơ Úc hay nhất năm 2012 và 2014. Cô là tác giả của một tập mỏng, Những bàn tay hay quên (Forgetful Hands, Vagabond Press, 2005), và tập thơ Ngôn ngữ cơ thể, (Body Language, Vagabond Press, 2012) đã đoạt giải Anne Elder. Cô nằm trong ban giám khảo đầu tiên của giải thưởng thơ Noel Rowe Poetry Award và đã hoàn hành kỳ viết lưu trú tại trung tâm sáng tạo Arteles ở Phần Lan năm 2016. Tuyển tập thơ mới của cô, Hiện diện (Presence), vừa được Vagabond Press xuất bản.

 

 

Ellen van Neerven.jpgEllen van Neerven: Ellen van Neerven is a Yugambeh woman from South East Queensland. She is the author of Comfort Food and Heat and Light which won the 2013 David Unaipon Award, the 2015 Dobbie Award and the 2016 NSW Premiers Literary Awards Indigenous Writer’s Prize.

Ellen van Neerven: Ellen van Neerven là một người nữ Yugambeh đến từ Đông Nam Queensland. Cô là tác giả của Thực phẩm dễ chịu (Comfort Food) Nhiệt và Ánh Sáng (Heat and Light), tác phẩm đã đoạt giải David Unaipon năm 2013, giải Dobbie năm 2015 và giải NSW Premiers Literary Awards dành cho nhà văn bản địa năm 2016.

 

 

 

Emily Stewart.jpgEmily Stewart is a poetry editor at Giramondo Publishing and a doctoral student at Western Sydney University, where she is conducting creative research at the intersection of poetry and architecture. Her first collection Knocks was published by Vagabond Press in 2016 and won the Noel Rowe Poetry Award.

Emily Stewart là biên tập viên mảng thơ của Giramondo Publishing và là sinh viên tiến sĩ tại Đại học Western Sydney, nơi cô đang tiến hành nghiên cứu sáng tạo trong thơ và kiến trúc. Tập thơ đầu tiên Knocks của cô được xuất bản bởi Vagabond Press vào năm 2016 và đã giành giải Noel Rowe Poetry Award.

 

 

GregNissan.JPGGreg Nissan is a poet and translator from New York City. He studied comparative literature and German studies at Brown University, where he received several awards for poetry. His translations of Uljana Wolf’s debut collection have appeared in journals such as Asymptote, Two Lines, The Brooklyn Rail, and Action, Yes. In 2015, he received a Fulbright grant to produce a documentary poetry project based on research and translations of Kiezdeutsch, a youth dialect found in multilingual areas of Berlin. An excerpt from his manuscript was published in Asymptote’s 2016 “Multilingual Poetry” special issue. He writes and publishes his own poetry in journals such as 3:AM Magazine, Denver Quarterly, Small Po[r]tions, and Theme Can. He is the poetry editor of SAND, Berlin’s English literary journal.

Greg Nissan là nhà thơ và dịch giả đến từ thành phố New York. Anh học văn học so sánh và nghiên cứu về Đức tại Đại học Brown, nơi anh nhận được vô số giải thưởng về thơ. Bản dịch tuyển tập đầu tiên của Uljana Wolf của anh đã được xuất bản trên nhiều tạp chí như Asymptote, Two Lines, The Brooklyn Rail, và Action, Yes. Năm 2015, anh nhận học bổng Fulbright cho một dự án thơ tài liệu dựa trên các nghiên cứu và bản dịch tiếng Kiezdeutsch, một phương ngữ trẻ được phát hiện tại các khu vực đa ngữ của Berlin. Một đoạn trích từ bản thảo của anh đã được đăng tải trên số đặc biệt “Thơ đa ngôn ngữ” (Multilingual Poetry) của Asymptote vào năm 2016. Anh viết và xuất bản thơ của mình trên các tạp chí như 3:AM, Denver Quarterly, Small Po[r]tions,Theme Can. Anh là biên tập viên mảng thơ của tạp chí văn chương SAND, tạp chí văn chương tiếng Anh ở  Berlin.

 

 

Hai-Dang Phan.jpegHai Dang Phan is a Vietnamese-born American poet, translator, and scholar. His writing has appeared in The New Yorker, Poetry, Best American Poetry 2016, Boston Review, New England Review, Asymptote, and has been generously supported with fellowships and scholarships from the National Endowment for the Arts, Bread Loaf Writers’ Conference, and the American Literary Translators Association. The author of the chapbook Small Wars (Convulsive Editions, 2016), he holds an M.F.A. in Creative Writing from the University of Florida and a Ph.D. in English from the University of Wisconsin. Currently an Assistant Professor of English at Grinnell College, he is completing his first book, Reenactments: Poems and Translations.

Hải Đăng Phan là nhà thơ, dịch giả, học giả người Mỹ gốc Việt. Tác phẩm của anh đã được đăng tải trên The New Yorker, Poetry, Best American Poetry 2016, Boston Review, New England Review, Asymptote, và nhận được những tài trợ văn chương hào phóng với các học bổng và các kỳ giao lưu đến từ Quỹ Hỗ trợ Quốc gia (National Endowment) dành cho nghệ thuật, Hội thảo của các nhà văn Bread Loaf Writers’ Conference, và Hiệp hội các dịch giả văn chương Mỹ. Là tác giả của tập sách mỏng Những cuộc hiến nhỏ (Small Wars, Convulsive Editions, 2016), anh có bằng Thạc sỹ Nghệ thuật chuyên ngành Viết Sáng tạo từ Đại học Florida và bằng Tiến sỹ Anh văn từ Đại học Wisconsin. Gần đây, với tư cách trợ lý Giáo sư Anh văn tại Grinnell College, anh đang hoàn thành cuốn sách đầu tiên của mình Tái xuất hiện: Thơ và các bản dịch (Reenactments: Poems and Translations.

 

 

Hai Yen.jpgHải Yến, 1994. yen may be yen may be yen if watered.

Hải Yến, 1994. yên có thể l(ặng) yên có thể l(ặng) yên có thể l(ặng) yên được tưới nước.  

 

 

 

 

 

JakeSchneider.jpg

Jake Schneider born in 1988, is a writer, translator, and New Jersey native. After studying creative writing at Sarah Lawrence College, in 2012 he received a National Endowment for the Arts fellowship—the youngest recipient to date—to translate Fragmented Waters by Ron Winkler (Shearsman Books) and has lived in Berlin ever since. His literary translations have appeared in Words Without Borders, Circumference, Washington Square, the Massachusetts Review, the Boston Review, and the Chicago Review, alongside more exotic cameos at a Carnegie Hall concert, several literary magic shows, and the 2015 Venice Art Biennale. He is the editor in chief of SAND, Berlin’s English literary journal.

Jake Schneider sinh năm 1988, là nhà văn, dịch giả và dân bản địa New Jersey. Sau khóa học viết sáng tạo tại trường Cao đẳng Sarah Lawrence, năm 2012, anh nhận được Trợ cấp Quốc gia dành cho giao lưu Nghệ thuật – người trẻ nhất nhận học bổng này tại thời điểm đó – để dịch cuốn Nước phân mảnh (Fragmented Waters) của Ron Winkler (Shearsman Books) và sống tại Berlin từ đó. Các bản dịch của anh đã được đăng tải trên Words Without Borders, Circumference, Washington Square, Massachusetts Review, Boston Review, và Chicago Review, cùng với các vai diễn khách mời mang phong vị lạ tại hoà nhạc Carnegie Hall, vô số màn trình diễn ảo thuật văn chương, và Venice Art Biennale năm 2015. Anh là Tổng biên tập tạp chí văn chương SAND, Berlin’s English.

 

 

 

Joshua Ip.jpgJoshua Ip is the Singapore Literature Prize-winning author of sonnets from the singlish upsized edition (2015), làm tình với những viên gạch sờ soạng (making love with scrabble tiles, 2013), and sonnets from the singlish (2012). He has placed in three different categories of the Golden Point Award. He co-edits two series of anthologies: A Luxury We Cannot Afford and SingPoWriMo; and edits Ten Year Series, an imprint of Math Paper Press. He is working on a graphic novel, Ten Stories Below. He is the founder of Sing Lit Station, a non-profit that runs multiple community initiatives, including SingPoWriMo, Manuscript Bootcamp, poetry.sg, and several workshop groups.

Joshua Ip giành giải thưởng văn chương Singapore với các bản sonnet từ tiếng anh-sing phiên bản nở (sonnets from the singlish upsized edition, 2015), making love with scrabble tiles (2013), và các bản sonnet từ tiếng anh-sing (sonnets from the singlish, 2012). Anh được đề cử tại 3 hạng mục khác nhau của giải Golden Point. Anh đồng biên tập hai tuyển tập: Sự xa xỉ ta không thể trả (A Luxury We Cannot Afford) và SingPoWriMo; và biên tập series Mười năm, một  dấu ấn của tạp chí Math Paper. Anh là người sáng lập trạm Sing Lit, một tổ chức phi lợi nhuận điều hành vô số sáng kiến cộng đồng bao gồm SingPoWriMo, Manuscript Bootcamp, poetry.sg và các xưởng thực hành. 

 

Justin Lane Briggs.jpgJustin Lane Briggs grew up in the organic farming communities of rural Vermont. Since 2002, he has been designing and operating cocktail & bar programs all over the northeastern United States of America. He has received numerous awards for his culinary work, and his recipes have been published in newspapers, magazines and books. Justin leads other bartenders annually at New Orleans’ Tales of the Cocktail and the San Antonio Cocktail Conference; he’s also created cocktail components for a wide range of performances, from dance to radio to television. He has performed in several bands and several pieces of theater, and one of his plays was selected by the Actor’s Studio for their annual One Act festival a few years ago.  He mostly drinks mezcal and listens to loud music. He lives in Brooklyn, but believes he prefers to be in Oaxaca and Hanoi.

Justin Lane Briggs lớn lên giữa các cộng đồng nông nghiệp hữu cơ ở vùng nông thôn Vermont. Từ năm 2002, anh thiết kế và khởi động các chương trình cocktail & bar rộng khắp vùng đông bắc Hoa Kỳ. Anh đoạt vô số giải thưởng cho hoạt động ẩm thực của mình, và các công thức của anh đã được xuất bản trên báo, tạp chí và sách. Justin hướng dẫn các bartender khác thường niên tại Những câu chuyện của cocktail New OrleansHội thảo Cocktail San Antonio. Anh cũng sáng tạo các yếu tố cocktail rộng rãi ở các buổi trình diễn, từ khiêu vũ đến radio đến truyền hình. Anh đã trình diễn trong vô số các nhóm nhạc và kịch nghệ, đồng thời một vở kịch của anh đã được Actor’s Studio lựa chọn cho lễ hội One Act thường niên của họ vài năm trước. Anh thường uống mezcal và nghe nhạc ồn. Anh sống ở Brooklyn nhưng tin rằng mình ưa thích Oxaca và Hà Nội hơn cả.

 

 

Kaitlin Rees.pngKaitlin Rees was born in Wampsville, has been commuting between New York and Hanoi since 2011. With Nhã Thuyên she found AJAR, a small bilingual publishing press with an online journal and a poetry festival. Her translations of Nhã Thuyên’s poetry have been published in various literary spaces, with one full-length collection, words breathe, creatures of elsewhere (Vagabond Press, 2016). Her ongoing poetic artwork of compiling fragments of an infinite dictionary was exhibited at Zalaegerszeg, Hungary in 2015 and in the hutongs of Shanghai, China in 2016. She is the recent recipient of the PEN/Heim Translation Grant 2017 and currently works in a bakery.

Kaitlin Rees sinh tại Wampsville, thường xuyên giao du giữa New York và Hà Nội từ năm 2011. Cùng với Nhã Thuyên, nàng sáng lập AJAR, một tạp chí xuất bản song ngữ nhỏ cùng với một tạp chí điện tử và một hội thơ. Các bản dịch thơ Nhã Thuyên của nàng đã xuất bản trên vô số không gian văn chương, cùng với một tuyển tập trọn vẹn từ thở, những người lạ được xuất bản bởi Vagabond Press (2016). Tác phẩm nghệ thuật thi ca đang tiếp diễn của nàng Những mảnh vỡ của một cuốn từ điển bất tận đã được triển lãm tại Zalaegerszeg, Hungary, 2015 và ở những ngõ ngách Thượng Hải, Trung Quốc năm 2016. Gần đây cô đã nhận được giải thưởng dịch thuật PEN/Heim 2017 cũng như làm việc cho một tiệm bánh.

 

 

 

Lee Yew Leong_250_250.pngLee Yew Leong is the founder of Asymptote, winner of the 2015 London Book Fair Award for Literary Translation Initiative. As Asymptote’s fiction editor and editor-in-chief, Yew Leong has curated 70 Translation Tuesday showcases at The Guardian since November 2015. Based in Taipei, he works as a freelance editor and translator of contemporary Taiwanese literature. Among the three book-length works he has translated, Fu-chen Lo’s From Taiwan to the World and Back is the most recent publication. Winner of the James Assatly Memorial Prize for Fiction (Brown University), he has written for The New York Times, among others, and recently served as one of the judges for PEN International’s 2016 New Voices Award.

Lee Yew Leong là người sáng lập Asymptote, thắng giải thưởng cho Sáng kiến Dịch Văn chương tại London Book Fair 2015. Là tổng biên tập và biên tập viên mảng hư cấu của Asymptote, Yew Leong đã giám tuyển tới 70 buổi giới thiệu Thứ Ba Dịch thuật tại The Guardian kể từ Tháng 11 năm 2015. Lớn lên tại Đài Bắc, anh làm biên tập viên và dịch giả tự do của văn chương đương đại Đài Loan. Trong số 3 cuốn sách anh đã dịch, Từ Đài Loan đến Thế giới và Đen (From Taiwan to the World and Back) của  Fu-chen Lo là xuất bản phẩm mới nhất. Thắng giải James Assatly Memorial cho tác phẩm hư cấu (Đại học Brown), anh viết cho The New York Times cùng nhiều tạp chí khác, và gần đây, làm giám khảo của PEN quốc tế 2016 cho Giải thưởng Những giọng nói mới (New Voices Award).

 

 

Linh Dinh.jpgLinh Dinh is the author of two collections of stories, five of poems and a novel on Vietnam, Love Like Hate. He’s been anthologized in several editions of Best American Poetry, and Postmodern American Poetry: a Norton Anthology (vol. 2), etc. He is also the editor of Night, Again: Contemporary Fiction from Vietnam and The Deluge: New Vietnamese Poetry. His latest book is Postcards from the End of America. Focusing on the unraveling of the United States, Dinh has published hundreds of articles on the internet, most prominently at Unz Review. He has been translated into many languages.

Linh Đinh là tác giả của 2 tập truyện, 5 tập thơ và 1 tiểu thuyết về Việt Nam, Yêu như hận (Love like hate). Tác phẩm của anh được chọn trong các ấn bản Thơ Mỹ hay nhất (Best American Poetry), Tuyển các bài thơ văn xuôi Mỹ hay nhất từ Poe tới thời hiện tại (Great American Prose Poems from Poe to the Present ), Thơ Mỹ hậu hiện đại: một tuyển tập của Norton (Postmodern American Poetry: a Norton Anthology, vol.2) cùng nhiều ấn phẩm khác. Anh cũng biên tập các tuyển tập Lại, Đêm: hư cấu đương đại đến từ Việt Nam (Night, Again: Contemporary Fiction from Vietnam, Seven Stories Press 1996) và Trận đại hồng thủy: cuốithơ Việt mới (The Deluge: New Vietnamese Poetry). Cuốn sách mới nhất của anh là Bưu thiếp gửi từ cuối kết của Mỹ (Postcards from the End of America). Tập trung phơi mở Hoa Kỳ, Đinh đã xuất bản hàng trăm bài báo trên mạng, nổi bật nhất gần đây trên Unz Review. Anh được dịch rộng rãi sang nhiều thứ tiếng.

 

 

Ly Doi 1.JPGLý Đợi (1979) was born in 1978 in Khúc Lũy village of Quang Nam province. He currently lives with his wife and two daughters in Saigon. Lý Đợi holds a bachelor degree in literature and journalism (2001). He has published five personal collections of poetry: Seven Variations on the Spider (2003), A Song Collection of Hollow Objects (2004), “The Progeny of the Trinh Tùng Tale, or The Seed’s Seed Tale.” (prose poems, 2004), Dog Meat Vegetarianism (2005), When The Enemy Falls Asleep (2010). He appears in ten other anthologies, including: Six-sided Circle (2002), Open Mouth (2002), Cutting Drilling Concrete (2005), Blank Verse – An anthology of Vietnamese New Formalism poetry (USA, 2006), Tienve [1] – An anthology of contemporary Vietnamese literature (Australia, 2006), Hornily flap (University of Buffalo, USA, 2007), The Deluge – New Vietnamese poetry (USA, 2007), Soft Targets (USA – Canada, 2007), Use zis when zis is available, use zat when zat is available (2007). Lý Đợi has published three research books on the subject of Saigon and completed two books on the Vietnamese art market (to be published). Active in the independent publishing space, he is working at the Scratch Paper Publishing House, of which Bùi Chát is the Editor in Chief.

Lý Đợi sinh năm 1978 tại làng Khúc Lũy tỉnh Quảng Nam. Gần đây anh sống cùng vợ và hai con gái tại Sài Gòn. Lý Đợi giữ bằng cử nhân văn chương và báo chí (2011).  Với thơ, anh đã có 5 thi tập cá nhân: Bảy biến tấu con nhện (2003), Tổ khúc những vật rỗng (2004), Trinh Tùng truyện chi tử (truyện thơ, 2004), Trường chay thịt chó (2005), Khi kẻ thù ta buồn ngủ (2010). Và khoảng 10 thi tập chung, có thể kể như Vòng tròn sáu mặt (2002), Mở miệng (2002), Khoan cắt bê tông (2005), Thơ trắng – Một tuyển tập thơ hình thức mới Việt Nam (Blank verse – An anthology of Vietnamese new formalism poetry, USA, 2006), Tiền Vệ – Một tuyển tập văn chương Việt Nam đương đại (Tien Ve [1] – An anthology of contemporary Vietnamese literature, Australia, 2006), Hornily flap (University of Buffalo, USA, 2007), Trận đại hồng thủy của thơ Việt mới (The deluge – New Vietnamese poetry, USA, 2007), Mục tiêu mềm (Soft targets, USA – Canada, 2007), Có jì dùng jì – Có nấy dùng nấy (2007)…Với nghiên cứu – biên khảo, Lý Đợi là tác giả của 3 cuốn sách về chủ đề Sài Gòn và 2 sách về thị trường mỹ thuật Việt Nam (sẽ xuất bản). Anh hoạt động trong lĩnh vực xuất bản độc lập tại NXB Giấy Vụn, do Bùi Chát chủ trương.

 

 

 

Martin Villanueva.jpgMartin Villanueva (The Philippines) teaches at the Ateneo de Manila University, where he finished his undergraduate studies; he has an MFA from De La Salle University. He has received prizes from the Carlos Palanca Memorial Awards for Literature and has been published most recently in Plural and Softblow. He authored Narratives in and of the Mind: Approaches to Creative Nonfiction with Exercises (Sibs Publishing House Inc., 2016), and co-edited (with Ramon Guillermo) Kritika Kultura’s Special Literary Section on the Contemporary Philippine Essay (2016) and (with Oliver Ortega) the lyric essay issue of High Chair (2015). His book of poems Account is forthcoming.

Martin Villanueva giảng dạy tại Đại học Ateneo de Manila, nơi anh tốt nghiệp đại học; anh nhận bằng Thạc sỹ tại Đại học De La Salle. Anh nhận nhiều giải thưởng từ Carlos Palanca Memorial Awards cho Văn chương và gần đây chủ yếu xuất bản trên Plural và Softblow. Anh là tác giả của Trần thuật trong và của tâm trí: Các hướng tiếp cận phi hư cấu sáng tạo cùng các bài tập (Narratives in and of the Mind: Approaches to Creative Nonfiction with Exercises, Sibs Publishing House Inc., 2016), và đồng biên tập (cùng Ramon Guillermo) mảng Văn chương Đặc biệt của Kritika Kultura trên Tiểu luận Philippines đương đại (2016) và (cùng Oliver Ortega) ấn bản tiểu luận nhạc kịch của High Chair (2015). Sách thơ Tài khoản (Account) của anh vừa ra mắt.

 

 

Ngân Nguyễn.jpgNgân studies in Hanoi. She gets along quite well with pun(n)iness.

Ngân đang học tại Hà Nội. Làm bạn với những bông đùa èo uột.

 

 

 

 

 

Nha Thuyen.jpgNhã Thuyên writes, translates, edits books and sometimes organizes literary events. She has authored several books of poetry, short fiction and some tiny books for children. Her most recent poetry book words breathe, creatures of elsewhere (từ thở, những người lạ) was published in Vietnamese (Nha Nam, 2015) and in English translation by Kaitlin Rees (Vagabond Press, 2016). With Kaitlin Rees, she currently co-edits AJAR, a bilingual literary journal-press based in Hanoi, and together they co-organized the inaugural mini poetry festival in Hanoi 2016. She is shaping a book of essays on Vietnamese contemporary poetry and making some nonsense writing.

 Nhã Thuyên viết, dịch, biên tập sách và đôi khi tổ chức các sự kiện văn chương ở Hà Nội với bạn bè. Cô là tác giả của vài tập thơ và truyện cực ngắn cùng vài cuốn sách tranh nho nhỏ cho trẻ em. Tác phẩm gần đây nhất của cô là tập thơ từ thở, những người lạ / words breathe, creatures of elsewhere, Nhã Nam xuất bản bản tiếng Việt và Vagabond Press xuất bản bản tiếng Anh với bản dịch của Kaitlin Rees. Hiện cô cùng Kaitlin Rees biên tập tạp chí văn chương AJAR. Cô đang định hình một cuốn tiểu luận về thơ đương đại Việt Nam và thực hành các lối viết phi nghĩa (lý).

 

Nguyen Thuy Dương.jpgNguyễn Thuỳ Dương was born in 1994 and writes under the pen name Popusvine. She studied at the Gifted High School of Trần Phú in Hải Phòng, majoring in literature (2009-2012) and was among the second place prize recipients in the national literature competition of students 2011-2012. She is presently a student in the Philology Department of Hanoi National University of Education.

Nguyễn Thuỳ Dương sinh năm 1994 và viết dưới ký danh Popusvine. Cô học chuyên Văn tại trường Năng khiếu Trần Phú, Hải Phòng (2009-2012) và là một trong số những học sinh đạt giải Nhì kỳ thi Học sinh giỏi Quốc gia 2011- 2012. Hiện tại cô là sinh viên khoa Triết trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

 

 

Screen Shot 2017-09-19 at 3.54.11 PM.pngNguyễn Thuý Hằng: Graduate of the University of Fine Art in Ho Chi Minh City, Nguyen Thuy Hang is a writer, poet and visual artist. Her first trilogy, Current Times, Good Sensations, and Reasonable Insanity, written during a two year adventure in USA, was published by Knowledge Publisher and Young Publisher, Hanoi, 2006.
On return to Vietnam in 2005, Hang moved to Hanoi and completed two more books and one solo exhibition The Gang, sculpture installation at VietArt Centre, We Haven’t Been Able to Sleep published by Knowledge Publisher and Literature Publisher, Hanoi, 2008, and They – The Powder of The Illusory, published by Nha Nam, Hanoi, 2013. Her recent solo exhibition is sculpture installation in large-scale The Warrior, was supported by CDEF and Post Vidai Collection, Saigon, 2015. In 2017, a solo exhibition of her Histoire d’un Voyage: Sand in my ears, adrift of the world was presented by The Factory Contemporary Arts Centre, Saigon, to show exploring the process of writing and producing books, as a critical part of her artistic practice.
Nguyen Thuy Hang’s works often combine various art and forms: large scale sculpture installation and contemporary dance, cinema and fine arts, music. She is currently working in Saigon. Website: http://www.nguyenthuyhang.com

Nguyễn Thuý Hằng: Tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, Nguyễn Thuý Hằng là một nhà văn, nhà thơ và nghệ sỹ thị giác. Trilogy đầu tiên của cô, “Thời hôm nay, khoái cảm và điên rồ hợp lý”, được viết trong một cuộc phiêu lưu kéo dài hai năm ở Mỹ, được xuất bản bởi Nhà xuất bản Kiến Thức và Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội, 2006.
Quay về Việt Nam vào năm 2005, Hằng đã chuyển đến Hà Nội và hoàn thành thêm hai cuốn sách và một triển lãm cá nhân The Gang, sặp đặt điêu khắc tại Trung tâm VietArt, Bởi từ lâu chúng ta không thể ngủ xuất bản bởi Nhà xuất bản Kiến Thức và Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2008 và Họ – Bột Hư Ảo xuất bản bởi Nhã Nam, Hà Nội, 2013. Triển lãm cá nhân gần đây của cô là sắp đặt điêu khắc trên quy mô lớn Những Chiến Binh, được CDEF và Bộ sưu tập Post Vidai, Sài Gòn, năm 2015 hỗ trợ. Năm 2017, triển lãm của cô Lịch sử cuộc Viễn du: Cát trong tai tôi, trôi dạt thế giới đã được Trung tâm Nghệ thuật Đương đại The Factory Sàigòn trình diễn để khám phá quá trình viết và sản xuất sách, như một phần quan trọng trong thực hành nghệ thuật của cô.
Các tác phẩm của Nguyễn Thuý Hằng thường kết hợp nhiều hình thức nghệ thuật khác nhau: sặp đặt điêu khắc quy mô lớn, múa đương đại, điện ảnh, mỹ thuật và âm nhạc. Cô hiện đang làm việc tại Sài Gòn. Trang web: http://www.nguyenthuyhang.com

 

 

Norman Erikson Pasaribu.jpgNorman Erikson Pasaribu was born in Jakarta. He worked for Indonesia’s tax office for almost six years before resigning in 2016 to pursue writing. His first short story collection Hanya Kamu yang Tahu Berapa Lama Lagi Aku Harus Menunggu [Only You Know How Much Longer I Should Wait] was shortlisted for the 2014 Khatulistiwa Literary Award for Prose. In 2015 he was one of the emerging writers at Ubud Writers and Readers Festival. His debut poetry collection, Sergius Mencari Bacchus [Sergius Seeks Bacchus], won first prize in the 2015 Jakarta Arts Council Poetry Competition and was also shortlisted for the 2016 Khatulistiwa Literary Award for Poetry.

Norman Erikson Pasaribu sinh tại Jarkarta. Anh làm việc cho cơ quan thuế của Indonesia trong gần 6 năm trước khi bỏ việc vào năm 2016 để theo đuổi nghiệp viết. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của anh Hanya Kamu yang Tahu Berapa Lama Lagi Aku Harus Menunggu (Chỉ mình anh biết tôi nên chờ bao lâu nữa) đã được đề cử giải thưởng văn chương Khatulistiwa cho văn xuôi vào năm 2014. Năm 2015, anh là một trong những người viết triển vọng tại Lễ hội tác giả và độc giả Ubud. Tập thơ đầu tay của anh, Sergius Mencari Bacchus [Sergius tìm Bacchus], đã thắng giải nhất trong cuộc thi thơ của Hội đồng nghệ thuật Jakarta năm 2015 và đồng thời được đề cử giải thưởng văn chương Khatulistiwa 2016 cho thơ.

 

 

Quyen.jpgQuyên (Our Quyên), born in Hanoi, has written essays on appropriation in modern and contemporary art. By inexplicable strokes of fate, she has translated poems and essays by Nhã Thuyên into English and contributed to AJAR as writer, translator, blogger, doodler, performer, presenter.

Quyên, sinh ra tại Hà Nội, viết các tiểu luận về sự chiếm dụng trong nghệ thuật hiện đại và đương đại. Bằng cú đánh không thể lý giải của số phận, cô đã dịch các bài thơ và tiểu luận của Nhã Thuyên sang tiếng Anh và đóng góp cho AJAR như một người viết, một dịch giả, một blogger, một kẻ nguệch ngoạc, một người trình diễn, một người hiện diện.   

 

 

 

Patrick Autreaux.jpgPatrick Autréaux born in France in 1968. While studying medicine and cultural anthropology, Patrick Autréaux published poetry and reviews of contemporary art. In 2006, after practicing for 15 years as an emergency-room psychiatrist, he decided to devote himself entirely to writing. The view of illness as an inner experience informs his first cycle of writing, ending with Se survivre (Verdier). He is the author of Dans la vallée des larmes, Soigner, and Le Dedans des choses (novels), all published by Gallimard. He also published in 2015 Les Irréguliers (Gallimard), a novel on illegal immigrant in France. His “standing poem” Le Grand Vivant (Verdier) was produced at the Festival d’Avignon (“in”) 2015. In 2017, he published La Voix écrite (Verdier) a narrative of a life between literature and medicine. He will be writer-in- residence at Boston University in 2018-2019, where he will create the seminar: “the writer as a reader”.

Patrick Autréaux sinh tại Pháp vào năm 1968. Trong khi đang học ngành y và nhân học văn hóa, ông đã xuất bản thơ và các bài phê bình nghệ thuật đương đại. Năm 2006, sau quá trình 15 năm thực hành nghề bác sỹ tâm thần phòng cấp cứu, ông quyết định dành toàn bộ phần đời còn lại cho viết. Quan điểm về bệnh tật như một trải nghiệm bên trong cho ông biết chu kỳ đầu tiên của đời viết lách, kết thúc với Se survivre (Verdier). Ông là tác giả của Dans la vallée des larmes, Soigner, Le Dedans des choses (tiểu thuyết), tất cả đều được Gallimard xuất bản. Ông xuất bản Les Irréguliers (Gallimard) vào năm 2015, một tiểu thuyết về nhập cư trái phép tại Pháp. Bài “thơ đứng” nhan đề “Le Grand Vivant” (Verdier) đã được làm ra tại Festival d’Avignon (“trong”) năm 2015. Năm 2017, ông xuất bản La Voix écrite (Verdier), một tường thuật về cuộc đời giữa văn chương và y học. Ông sẽ là nhà văn lưu trú tại Đại học Boston vào năm 2018-2019, nơi ông tiến hành hội thảo: “nhà văn như người đọc”.

 

Peter Boyle.jpgPeter Boyle is an Australian poet and translator of poetry who lives in Sydney. He has published seven books of poetry, including Ghostspeaking (Vagabond, 2016), Towns in the Great Desert (Puncher and Wattman, 2013) and Apocrypha (Vagabond, 2009). His awards include the New South Wales Premier’s Prize for Poetry, the Queensland Premier’s Prize and the ACT Judith Wright award. He is also a translator of poetry from French and Spanish with six books of translation published, including Selected Poems by Olga Orozco, Marosa di Giorgio and Jorge Palma (Vagabond, 2017). He was awarded the New South Wales Premier’s Prize for Literary Translation. After many years working as a teacher with TAFE, Peter is completing a Doctorate of Creative Arts at Western Sydney University.

Peter Boyle, nhà thơ và dịch giả thơ người Úc sống tại Sydney. Ông đã xuất bản 7 tập thơ, bao gồm Ma nói (Ghostspeaking, Vagabond, 2016), Những thị trấn trên hoang mạc (Towns in the Great Desert, Puncher and Wattman, 2013) và Apocrypha (Vagabond, 2009). Ông đã đoạt các giải thưởng Giải New South Wales Premier cho Thơ, giải Queensland Premier và giải thưởng ACT Judith Wright. Ông đồng thời là dịch giả thơ tiếng Pháp và Tây Ban Nha với 6 đầu sách dịch đã xuất bản, bao gồm Các bài thơ tuyển chọn của Olga Orozco, Marosa di Giorgio và Jorge Palma (Vagabond, 2017). Ông đã được trao giải New South Wales Premier cho dịch văn chương. Sau nhiều năm làm giáo viên cùng TAFE, Peter đã hoàn thành bằng Tiến sỹ Nghệ thuật sáng tạo tại Đại học Western Sydney.

 

 

ThanhPhung_BlackWhite.jpgThanh Phùng is enamored with Jacques Rancière. As a lover of equality, she is conducting educational experiments on creativity, contemporary art, literature, and feminism. 

Thanh Phùng. đang say mê với Jacques Rancière. Là người yêu bình đẳng, bạn ấy đang tiến hành các thí nghiệm giáo dục về sáng tạo, nghệ thuật đương đại, văn học, và nữ quyền.

 

 

Trúc-Ty.jpgTrúc Ty, currently in Đồng Nai, writes and translates poetry, mostly from the Chinese of Ye Hui, Bei Dao (China), and Yin Ling (Taiwan). He published a collection of Ye Hui’s poetry in translation, Tại Tiệm Kẹo Mứt (Candy Shop, Scrap Paper Press, 2008), and his own poetry collection Before becoming scrap paper (Scrap Paper Press, 2010). His works often appear on tienve.org and damau.org.

Trúc Ty hiện ở Đồng Nai, viết, và dịch thơ, chủ yếu từ tác phẩm Trung văn, của các nhà thơ Ye Hui (Diệp Huy), Bei Dao (Bắc Đảo) (China), Yin Ling (Taiwan). Đã xuất bản Tại Tiệm Kẹo Mứt (Dịch tập thơ Ye Hui, Trung Quốc, NXB Giấy Vụn, 2008) và Trước khi thành giấy vụn (Tập thơ, NXB Giấy Vụn, 2010). Các sáng tác thường đăng trên tienve.org, damau.org.

 

Hao Guang Tse.jpgTse Hao Guang is a Singaporean poet and editor, assembled with parts from Hong Kong and Malaysia. His first full-length poetry collection, Deeds of Light, was shortlisted for the 2016 Singapore Literature Prize. He is a 2016 fellow of the University of Iowa’s International Writing Program.

 Tse Hao Guang, nhà thơ và biên tập viên người Singapore, hợp cùng các bộ phận từ Hồng Kông và Malaysia. Tuyển tập thơ dài đầu tiên của anh, Deeds of Light, đã được đề cử Giải Văn chương Singapore 2016. Anh là hội viên chương trình Viết Quốc tế của Đại học Iowa năm 2016.

 

Victor Dumont.jpgVictor Dumont is a young Belgian dancer and performer, graduated from the Brussels Royal Academy of Fine Arts and the Royal Conservatory of Antwerp. He is currently working under the direction of choreographer Jan Martens, la Cie Mossoux-Bonté, in Philippe Saire’s company whilst also collaborating with artists from various other disciplines. In 2017 he participated in the 57th Venice Biennial of Contemporary Art as a performer for Admire et Rachel Monosov. He also begins his residency at the L Theatre in Brussels in collaboration with actress Nina Lombardo. His curiosity to discover the international performance scene has bought him in the same year to complete an internship with Benoit Lachambre in Montreal as well as present a self-developed piece for the A-festival in Hanoi, Vietnam.

Victor Dumont, vũ công và nghệ sỹ trình diễn trẻ người Bỉ, tốt nghiệp Học viện Nghệ thuật Hoàng gia Brussels và Nhạc viện Hoàng gia Antwerp. Gần đây, anh làm việc dưới sự chỉ dẫn của biên đạo múa Jan Martens, la Cie Mossoux-Bonté, tại công ty của Philippe Saire đồng thời tiếp tục hợp tác với các nghệ sỹ từ những chuyên ngành khác nhau. Năm 2017 anh tham gia vào Venice Biennial về Nghệ thuật đương đại lần thứ 57 với tư cách là người trình diễn cho Admire et Rachel Monosov. Anh cũng đã bắt đầu kỳ lưu trú của mình tại L Theatre ở Brussels và hợp tác cùng nữ diễn viên Nina Lombardo. Tò mò khám phá cảnh quan nghệ thuật trình diễn quốc tế đã đưa anh tới việc hoàn thành kỳ thực tập cùng Benoit Lachambre ở Montreal cũng như trình diễn một tác phẩm tự phát triển cho A-festival  tại Hà Nội, Việt Nam.

 

Vu Anh Vu .jpg

Vũ Anh Vũ, born January 30, 1982 near the sea in Hậu Lộc, Thanh Hóa and currently lives in Hanoi. He is the author of the epic poetry book Những di cảo tối (Dark posthumous works) (Writer’s Union Press, 2011). His poetry has mainly appeared in the online literary magazines Tiền Vệ and Da Màu. A recent collection of his poetry, Hãy nở hoặc lụi tàn (Either Bloom or Wither) was published by AJAR Press 2015.

Vũ Anh Vũ sinh ngày 30/01/1982 tại quê biển Hậu Lộc – Thanh Hóa. Hiện thường trú tại Hà Nội. Đã xuất bản trường ca Những di cảo tối (NXB Hội nhà văn, 2011. Tác phẩm thơ chủ yếu đăng tải trên hai trang mạng văn chương Tiền Vệ Da Màu. Tác phẩm gần đây nhất là tập thơ Hãy nở hoặc lụi tàn, do AJAR press ấn hành năm 2015. 

 

 

Vũ Thành Sơn.jpgVũ Thành Sơn was born and grew up in Saigon. His poems and stories have appeared on overseas literary websites.

Vũ Thành Sơn sinh trưởng tại Sài Gòn. Thơ và truyện thường đăng trên các trang mạng văn học hải ngoại.

 

 

 

Jonathan Morley_0989.jpgJonathan Morley teaches Literature and Creative Writing at Sun Yat-Sen University, Guangzhou. From 2013 to 2017 he was the Programme Director at Writers’ Centre Norwich, curating and expanding the organisation’s artistic programme as it campaigned to become the National Centre for Writing. He continues to coordinate WCN’s acclaimed Emerging Translator Mentorships programme, which recently launched placements in Korean, Malayalam and Tamil for the first time. His most recent collection of poems, Euclid’s Harmonics, winner of a Cafe Writers Commission, is published in the UK by Ink Sweat & Tears.

Jonathan Morley hiện đang dạy Văn học và Viết văn tại trường Đại học Tôn Dật Tiên ở Quảng Châu, Trung Quốc. Từ 2013 đến 2017, anh giữ vị trí Giám đốc chương trình tại Trung tâm Nhà văn Norwich, thiết kế và mở rộng các chương trình nghệ thuật của trung tâm trong thời kỳ vận động để nâng cấp thành Trung tâm Viết văn Quốc gia. Hiện tại anh vẫn tiếp tục điều phối chương trình Đỡ đầu người dịch trẻ nổi danh của Trung tâm Nhà văn Norwich, gần đây đã tuyển chọn được các dịch giả tiếng Hàn Quốc, Malaya và Tamil đầu tiên. Tập thơ mới nhất của anh – Euclid’s Harmonics – được ấn hành tại nhà xuất bản Ink Sweat & Tears ở Anh, đã đoạt giải cuộc thi sáng tác Café Writers của nhà xuất bản.

 

Trần Tiễn Cao Đăng.jpgTrần Tiễn Cao Đăng was born in 1965 and educated in Russian Linguistics and Literature at HCMC University of Social Sciences and Humanities. He currently works at Nhã Nam Culture and Publishing Company. He has published one collection of short stories, Baroque và ẩn hoa / Baroque and the Hidden Flower (2005) and one novel, Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian / Life Navigator 25: One in Love with the Entire World (2016).

Trần Tiễn Cao Đăng sinh năm 1965 và được đào tạo ngành Ngôn Ngữ học và Văn học Nga tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM. Hiện ông đang làm việc tại Công ty Văn hoá và Xuất bản Nhã Nam. Ông đã xuất bản một tập truyện ngắn, Baroque và ẩn hoa / Baroque và Hidden Flower (2005) và một cuốn tiểu thuyết, Life Navigator 25: Người tình của cả thế giới / Life Navigator 25: One in Love with the Entire World (2016).

 

 

Yên San.JPGYên San: 100% ORGANIC / 900$ (HANOI) !!!@#

Yên San: 100% TƯƠI / 900$ (HANOI) !!!@#

 

 

 

 


 

 

 

Advertisements